Thiệt HạiWiki
Tìm
Thiên tai lịch sử

Đắp đê sông Hồng: nghìn năm chống lụt của người Việt qua sử liệu

Sử chép đắp đê Cơ Xá năm 1108 thời Lý, năm 1248 thời Trần đắp đê dọc sông và đặt chức Hà đê sứ. Lịch sử hộ đê, vòng quay lòng sông cao, đê cao và đê sông Hồng hôm nay.

Đắp đê sông Hồng: nghìn năm chống lụt của người Việt qua sử liệu

Hệ thống đê sông Hồng là công trình phòng chống lũ lụt lâu đời và lớn nhất của người Việt, được đắp, tôn cao và nối dài qua gần một nghìn năm. Sử sách chép việc đắp đê Cơ Xá ở kinh thành Thăng Long năm 1108 thời Lý; đến năm 1248 thời Trần, triều đình cho đắp đê dọc hai bờ sông từ đầu nguồn tới bờ biển và đặt chức Hà đê sứ chuyên coi việc đê. Từ đó, đắp đê, hộ đê trở thành việc lớn hằng năm của nhà nước và làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ, và đê sông Hồng vẫn là tuyến phòng thủ chính cho Hà Nội và cả vùng đồng bằng ngày nay.

Vì sao đồng bằng sông Hồng cần đê

Sông Hồng mang lượng phù sa rất lớn và có lũ mùa hè lên nhanh, cao. Đồng bằng sông Hồng được bồi đắp chính từ phù sa đó, đất thấp, bằng phẳng. Khi chưa có đê, lũ hằng năm tràn ngập đồng ruộng, làng xóm. Để định cư lâu dài và trồng lúa ổn định, người Việt dần dần đắp những đoạn đê bảo vệ làng, rồi nối thành hệ thống. Cái giá là phù sa không còn bồi lên đồng mà lắng trong lòng sông giữa hai đê, làm lòng sông cao dần, buộc đê phải tôn cao theo, tạo nên vòng quay "lòng sông cao, đê cao" kéo dài nhiều thế kỷ.

Những mốc lịch sử

Thời gianSự kiện (theo sử liệu)
Trước thế kỷ 11Các làng ven sông đã đắp những đoạn đê nhỏ; tài liệu còn ít, nhiều điều chỉ là suy đoán
1108, thời LýĐại Việt sử ký toàn thư chép việc đắp đê Cơ Xá để giữ kinh thành Thăng Long
1248, thời TrầnTriều đình sai đắp đê dọc bờ sông từ đầu nguồn đến bờ biển (gọi là đê "quai vạc"), đặt chức Hà đê chánh, phó sứ coi việc đê
Thời LêTiếp tục tu bổ đê; luật lệ có điều khoản về trách nhiệm hộ đê và xử phạt người làm hỏng đê
Thời NguyễnTriều đình nhiều lần bàn luận nên giữ hay bỏ đê ở một số đoạn; cuối cùng chủ trương giữ và tu bổ
Đầu thế kỷ 20Nhiều trận lũ lớn vỡ đê gây ngập lụt nặng ở đồng bằng Bắc Bộ
Tháng 8/1971Trận lũ lịch sử trên sông Hồng, nhiều đoạn đê bị vỡ, mực nước tại Hà Nội lên mức cao nhất trong chuỗi quan trắc
Từ thập niên 1990Hồ Hoà Bình và sau này các hồ thượng nguồn tham gia cắt lũ cho hạ du, giảm áp lực lên đê

Các mốc thời Lý, Trần được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư; chi tiết kỹ thuật đắp đê thời đó không được ghi đầy đủ, nên các mô tả hiện nay phần nhiều dựa trên nghiên cứu của các nhà sử học, thuỷ lợi.

Hộ đê: việc của cả làng

Từ thời phong kiến tới nay, mỗi mùa lũ, các làng ven sông cử người canh đê ngày đêm, chuẩn bị đất, cọc tre, rơm rạ để vá chỗ rò rỉ, chống tràn. Những hiện tượng nguy hiểm mà người hộ đê luôn phải để ý:

  • Mạch sủi, đùn sủi: nước trong sông thấm qua nền đê, sủi lên ở chân đê phía đồng, mang theo cát; nếu không xử lý có thể khoét rỗng nền đê.
  • Thẩm lậu: nước rỉ qua thân đê phía đồng.
  • Sạt mái đê: mái đê bị sạt do nước ngấm, sóng đánh.
  • Nước tràn đỉnh: lũ cao hơn mặt đê.

Khẩu hiệu "phát hiện sớm, xử lý kịp thời" trong hộ đê vẫn được dùng tới hôm nay. Người dân sống gần đê thấy những dấu hiệu bất thường cần báo ngay cho lực lượng hộ đê, xã.

Đê và những tranh luận về "sống với lũ"

Trong lịch sử, có những thời điểm triều đình và các nhà nho bàn luận việc có nên bỏ đê để lũ tràn vào đồng, vừa giảm áp lực lên đê, vừa đem phù sa bồi ruộng. Cuối cùng, vì dân cư đã quá đông, ruộng đồng gắn với đê, phương án giữ đê được chọn. Ngày nay, các nhà quy hoạch thuỷ lợi vẫn bàn về việc dành không gian thoát lũ, bãi sông, khu phân lũ, chậm lũ, để đê không phải gánh hết áp lực.

Đê sông Hồng hôm nay

  • Hệ thống đê Bắc Bộ dài hàng nghìn km, gồm đê sông Hồng, sông Thái Bình và các phụ lưu, phân cấp theo tầm quan trọng.
  • Nhiều đoạn đê được gia cố, kết hợp làm đường giao thông.
  • Các hồ chứa lớn ở thượng nguồn như Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang, Thác Bà được vận hành theo quy trình liên hồ chứa để cắt lũ cho hạ du.
  • Luật Đê điều quy định hành lang bảo vệ đê; xây dựng trái phép trên đê, bãi sông làm giảm khả năng thoát lũ và an toàn đê.

Góc nhìn hôm nay: một công trình của nghìn năm

Đi dọc đê sông Hồng qua Hà Nội, ít ai nghĩ con đường mình đi là công trình nối tiếp của hàng chục thế hệ. Mỗi lớp đất đắp thêm là một mùa lũ người xưa đã vượt qua. Ai muốn tìm hiểu có thể đọc các đoạn chép về đê trong Đại Việt sử ký toàn thư, thăm Bảo tàng Lịch sử quốc gia, hoặc đơn giản là hỏi những cụ già ở làng ven đê về các trận lũ họ từng hộ đê. Đó cũng là cách hiểu vì sao giữ gìn hành lang đê là việc của mỗi người dân hôm nay.

Câu hỏi thường gặp

Đê sông Hồng được đắp từ khi nào?

Đại Việt sử ký toàn thư chép việc đắp đê Cơ Xá ở Thăng Long năm 1108 thời Lý. Năm 1248 thời Trần, triều đình cho đắp đê dọc bờ sông từ đầu nguồn tới bờ biển và đặt chức Hà đê sứ coi việc đê.

Hà đê sứ là gì?

Là chức quan được đặt từ thời Trần (năm 1248) chuyên coi việc đắp đê, giữ đê, gồm Hà đê chánh sứ và phó sứ, cho thấy triều đình coi việc đê là việc lớn của nhà nước.

Mạch sủi ở chân đê là gì?

Là hiện tượng nước sông thấm qua nền đê sủi lên ở chân đê phía đồng, mang theo cát. Nếu không xử lý kịp, nó có thể khoét rỗng nền đê và gây vỡ đê.

Vì sao lòng sông Hồng ngày càng cao?

Vì khi có đê, phù sa không còn bồi lên đồng mà lắng trong lòng sông giữa hai đê, làm lòng sông cao dần, buộc đê phải tôn cao theo qua nhiều thế kỷ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183